Phá quán tử phá suất – Hùng biện

April 10, 2013

3 – Hùng biện

.

      Dân không sợ chết, vì sao còn lấy cái chết ra đe doạ họ(1)? Cùng lắm là chết thôi, dù sao bình sứt cũng chẳng cần giữ gìn, giết lão tử, lão tử lại xuyên tiếp, lần tới xuyên thành cha ông luôn cho biết mặt.

      A Đẩu nghĩ tới nghĩ lui, cuối cùng bình tĩnh lại. Y ngẩng đầu nhìn chằm chằm vào Khổng Minh, to gan hỏi: “Tiên sinh nói… nói gì vậy?”

      Khi nói, y kìm lòng không đặng run rẩy cả người, A Đẩu chỉ thấy Gia Cát Lượng hai mắt trong suốt, đôi mày cau lại, như thể phát hiện ra chuyện gì đó không hợp lẽ thường. Lúc ánh mắt A Đẩu và Khổng Minh chạm nhau, y không tài nào rời mắt đi được nữa, y chỉ cảm thấy trong con ngươi sâu thẳm kia có một lực hút, khiến đầu mình dại cả ra. Y lẩm bẩm: “Ta là ai?”

      “Ngươi từ đâu đến?” Khổng Minh chậm rãi hỏi, giọng nói như mang theo yêu lực thôi miên.

“Ta đến từ…” Hai mắt A Đẩu mê mang.

      Phải biết rằng khi còn nhỏ, Gia Cát Khổng Minh đã từng theo Trương Đạo Lăng học được đầy mình đạo thuật. Trương Đạo Lăng chính là giáo tổ Thiên Sư Đạo. Trương Giác của Thái Bình Đạo, Vu Cát ở Đông Ngô, nếu truy tìm nguồn gốc đạo pháp, thì không tránh khỏi liên quan đến Thiên Sư Đạo. Giờ đây, vừa thấy A Đẩu, Khổng Minh đã phát hiện ngay ra dị trạng, thêm vào đó, trong lời nói lại ngầm ẩn chứa một ít chân pháp Đạo gia, yểm trụ y ngay tắp lự.

      Song, mọi việc trên thế gian thường không được như ý, khi Nguỵ Diên đột nhiên hấp tấp vọt vào quân trướng, đạp đổ ngọn đèn dầu, thì chỉ có thể nói mưu kế Gia Cát Khổng Minh dùng gần đây không được thành công cho lắm mà thôi.

      Trước khi đến đây, A Đẩu đã ăn ngấu ăn nghiến đầy một bụng bánh đậu xanh, mà món này vào bụng sẽ khiến bụng trướng rất khó chịu, thế là y ợ một tiếng.

      Tiếng ợ no thiệt vang dội, nó lập tức khiến toàn thân y rung động mà tỉnh táo lại, Khổng Mình ngàn tính vạn tính cũng không tính được đến tiếng ợ này. Khi hắn giật mình chưa kịp hoàn hồn thì ánh mắt A Đẩu đã lấy lại vẻ trong trẻo, y cười nói: “Ta đến từ nơi ta đến.”

       A Đẩu hỏi vặn lại: “Tiên sinh từ đâu tới?”

      Lần này đến lượt Khổng Minh bị yểm trụ, trong mấy nghìn năm nay, đáp án chính xác duy nhất chính là yết ngữ (dùng thơ hoặc lời văn để giảng giải một đạo lý nào đó) của Phật gia “Ta đến từ nơi ta đến.” A Đẩu vừa mới đáp xong, Khổng Minh không thể bắt chước y, đáp lại một câu y xì đúc được, dù ngươi có là quân sư vô địch một đời, cũng phải bó tay thôi. Cuối cùng, hắn đành đáp một câu thô bỉ: “Ta đến từ bụng mẹ.”

      Thầy trò hai người mặt đối mặt nửa ngày, A Đẩu mới cười ngây ngô vài tiếng, cố gắng giả bộ vô hại mà hỏi: “Tiên sinh gọi ta đến làm gì thế? A Đẩu mới từ chỗ dì tới.”

       A Đẩu dường như thấy được trên đầu Khổng Minh toát ra rất nhiều rất nhiều hắc tuyến, chúng cứ lộn xà lộn xộn, rối nùi một cục, ở giữa lại có vô số dấu chấm hỏi thi nhau hiện ra. Trong giây lát, trên đỉnh đầu Khổng Minh bật lên một cái bóng đèn sáng trưng, hắn hỏi: “Tối qua ngươi làm gì?”

       A Đẩu mừng thầm, đem cái lời nói dóc ‘lấy đệm giường ra chơi đu’ chi chít lỗ hổng kia ra khai báo. Khổng Minh rõ ràng chỉ đang thuận gió căng buồm thôi, chứ không có dụng ý gì khác, nhất thời thần trí bất định, chắng biết là đang suy nghĩ về câu hỏi lại kia, hay đang nghĩ xem A Đẩu hôm nay có gì khác với hôm trước, hắn lại hỏi: “Ngươi đã đọc sách hôm qua ta giao chưa?”

         A Đẩu đảo mắt láo liên mấy vòng rồi cười hỏi ngược lại: “Sách? Quên rồi.”

       Khổng Minh vốn có giao cho Lưu Thiện quyển sách nào đâu, nói vậy chỉ để thăm dò thôi, ai ngờ A Đẩu giả này khéo đưa đẩy quá đi, hai chữ “đã quên” vừa có thể hiểu là “đã quên tên sách” lại cũng có thể hiểu là “đã quên không đọc”. Khổng Minh chỉ cảm thấy cái đứa bùn nhão trước mặt đã khác nhiều với ngày xưa, đúng là có vẻ đại trí giả ngu lắm. Khi hắn đang định hỏi thêm câu nữa thì đã thấy Khương Duy lau xong hết bàn ghế, lan can, giờ đang lo Lưu Thiện bị mắng nên sợ bóng sợ gió tiến vào.

     Khổng Minh đành nói: “Thôi, gần đây vi sư bộn bề chính sự, ngày mai ngươi và Bá Ước không cần tới nghe giảng, bao giờ ta rảnh sẽ phái người gọi ngươi, đi đi.”

     Đến lúc này, A Đẩu mới thở phào nhẹ nhõm, thế nhưng vẻ mặt này lại bị Khổng Minh tóm được. Khi y đang định bảo Khương Duy đi thôi thì Khổng Minh lại nói: “Từ từ đã.”

     A Đẩu sợ hãi, chỉ nghe Khổng Minh hỏi: “Sao lại toát mồ hôi đầm đìa thế kia?”

     A Đẩu hít vào một hơi, xoay người lại và đáp: “A, tiên sinh, vừa thấy ánh mắt của ngươi, ta nghĩ ngay đến một người, à không, là nhìn thấy một người.”

      Khổng Minh nở nụ cười đầy thâm ý: “Cứ nói đi, đừng ngại.”

      A Đẩu vô cùng thật thà nói: “Mắt của tiên sinh thật sáng, ta thấy bóng người trong ấy, cứ ngỡ là mình cơ, lúc ẩn lúc hiện chẳng thấy rõ lắm, khi nhìn kỹ hơn thì đột nhiên thấy mẫu thân đã mất cười với ta…”

      Lời vừa thốt ra, dẫu là Khổng Minh cũng không nhịn được mà rùng mình, khoé miệng hắn hơi giật giật, vội vàng vung quạt đuổi A Đẩu và Khương Duy đi.

      Ra khỏi nơi quân cơ, A Đẩu chợt thấy một thị tỳ cầm khay gỗ chậm rãi đi qua trước sân, trên khay hình như là thuốc thì phải. Y gọi nàng lại và hỏi: “Ngươi cầm gì đó?”

      Thị tỳ kia thoạt tiên phớt lờ đi tiếp, Khương Duy lập tức nhíu mày quát: “Lớn mật!” Thị tỳ không còn cách nào khác, đành dừng bước rồi đáp: “Dược quân sư sắc cho chủ mẫu.”

      A Đẩu hoài nghi: “Dược?”

      Thị tỳ hơi có vẻ do dự, nàng đáp: “Chủ mẫu… không quen khí hậu…”

      Khương Duy kéo tay A Đẩu nói: “Thôi, đừng chấp nhặt với hạ nhân làm gì.” Thị tỳ liền phẫn nộ rời đi.

      Mặt trời dần ngả về tây, Khương Duy vẫn còn phải luyện võ, A Đẩu dù không muốn cũng chẳng có cách nào khác, đành phải trở về phòng ngủ.

      Kinh Châu là vùng có khí hậu nóng nực, trong phòng bị nắng rọi hấp hơi như lò rèn ấy, mà thời đại này một không có điều hoà, hai không có quạt máy, A Đẩu ngồi cũng không yên. Không phải mình là thái tử sao, gọi người đến quạt cho cũng được nhỉ, triệu thị tỳ nào. Một tiếng rồi hai tiếng, gọi đến khi muốn lật bàn luôn. Y nhịn không được thò đầu ra cửa sổ, thấy hai thị nữ đang ngồi trước hành lang, chả biết đang vá cái gì.

      “Tới quạt cho bản thiếu gia… bản thái tử…” A Đẩu nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng chẳng biết xưng hô ra làm sao, bèn nói: “Quạt cho ta! Nóng chết mất! Không để cho người ta sống à!”

      A Đẩu ngồi trên tháp, thị nữ thì quạt một cái dừng ba cái. Y trừng nàng ta thì nàng ta mới quạt tiếp, còn khi không trừng thì lại giở trò lười biếng, mãi mà chả thấy động đậy gì. A Đẩu tức nghẹn họng, bèn giật lấy cái quạt lông tự mình ra sức quạt, còn nói: “Quên đi quên đi, ăn cơm thôi, buổi trưa húp cháo, giờ bụng lão tử kéo quân rồi đây này.”

      Thị nữ nhìn A Đẩu như thể không quen y, rồi bật cười nói: “Chưa tới giờ tuất chưa được ăn cơm, tiểu chủ công đói đến hồ đồ rồi à?”

      “Cái gì?!” A Đẩu điên tiết. “Quy củ này là ai lập ra? Bảy giờ tối mới ăn cơm?!!”

      Sau khi được thị nữ kia giải thích, A Đẩu mới biết, trước nay Lưu Bị sống rất tiết kiệm, mùa hạ phải đến giờ tuất mới đốt đèn ăn cơm, ngoại trừ Tôn Thượng Hương từ Đông Ngô gả sang, phòng bếp trong phủ Kinh Châu mục không nấu riêng cho bất kỳ ai cả, mỗi bữa cơm đều làm hết một lượt, rồi mới phân đến các phòng.

      Mấy người Gia Cát Lượng, Trương Phi, Quan Vũ với Lưu Bị như thể tay chân, cùng nhau ăn cơm canh đạm bạc. Còn đồ ăn của Tôn Thượng Hương thì lại không dám sơ sài, phòng bếp luôn thêm một món rau một món canh, còn bưng thực hạp hầu hạ tận nơi, nếu để công chúa Đông Ngô xanh xao vàng vọt thì sợ rằng hai nước gặp hoạ binh đao mất thôi.

      “…”

      A Đẩu khóc không ra nước mắt, ném phịch cái quạt lông xuống, ý nghĩ duy nhất trong đầu chính là: *beep* nó (từ chửi bị xén, xem MasterChef US rất hay nghe tiếng này, đặc biệt là khi Gordon nói =))) hời cho cái lão bán giày cỏ kia quá rồi!

      Triệu Vân lúc đầu là đại tướng dưới trướng Công Tôn Toản, mười bảy tuổi đã thành hôn, sinh hai đứa con trai; sau khi vợ hắn chết bệnh thì đầu nhập Lưu Bị. Nam nhi độc thân tòng quân, không cách nào chăm sóc hai đứa trẻ nhỏ, đành phải để đứa con lớn Triệu Thống bảy tuổi dẫn đứa em trai Triệu Quảng bốn tuổi, theo dịch sử (người truyền công văn triều đình) về quê mẹ.

      Thanh niên hơn hai mươi goá vợ, ở trong mắt sĩ tộc Kinh Châu, tất nhiên là đứa con rể tốt nhất rồi. Thế nhưng Triệu Vân lại chẳng hề có chút xíu ý định tái giá nào, chỉ sống cùng đồ đệ Khương Duy.

      Chạng vạng, sau khi dạy võ kỹ xong, hai thầy trò trở về nhà – một nhà dân ngoài phủ châu mục. Khương Duy vào phòng trong làm cơm chiều, còn Triệu Vân thì lấy bồ cào, đến chuồng ngựa bỏ thêm cỏ khô vào máng ăn. Một tay hắn xoa nhẹ lên trán con ngựa, mỉm cười nói: “Cả ngày ở trong sân, sắp chạy không nổi rồi.”

      “Lão ký phục lịch, chí tại thiên lý (nghĩa đen: con ngựa già tuy nằm trong chuồng ngựa nhưng vẫn nuôi chí đi cả nghìn dặm; nghĩa bóng: người tuy đã già nhưng vẫn có hùng tâm tráng chí); sư phụ còn chưa già, sao lại cảm khái như vậy chứ.” Giọng nói mang theo chút trêu chọc vang lên từ phía sau.

      Triệu Vân dở khóc dở cười xoay người lại hỏi: “Sao lại đến đây?!”

     Người đang đi vào sân chính là A Đẩu, Triệu Vân nhìn chăm chú A Đẩu trong chốc lát, cảm thấy chỉ qua một đêm, A Đẩu của ngày hôm nay đã hoàn toàn khác biệt, nhưng diện mạo này lại vẫn là A Đẩu mà mình quen thuộc.

      A Đẩu thu ý cười giảo hoạt trong mắt kia lại, giả bộ đáng thương nói: “Ta đói bụng rồi, trong phủ không dọn cơm, đến chỗ sư phụ ăn chực đây.”

      Triệu Vân không khỏi bật cười, đành phải dẫn Lưu Thiện vào buồng trong, rồi bảo Khương Duy làm thêm đồ ăn.

      Triệu Vân thân là tướng quân nha môn, thế nhưng trong nhà chẳng có đến một người hầu, mọi việc đều tự túc cả, Khương Duy lại là người kế thừa Gia Cát Lượng, nên hai thầy trò ở lại trong một căn nhà dân rách nát. Trong nhà, ánh sáng lờ mờ, mãi đến khi mặt trời xuống núi, Triệu Vân mới thắp đèn, A Đẩu thấy vậy mà lòng xót xa. Đúng lúc này, Khương Duy vui vẻ mang cơm chiều lên, còn nói:

      “Sao ngươi lại tới, ngươi vẫn hay nói cơm canh trong phủ ngon mà, bỏ cơm ngon canh ngọt, chạy tới chỗ ta…”

      “Đừng nhắc tới nữa.” A Đẩu kêu rên: “Trong phủ quả thực không phải nơi cho người ở mà.”

     Triệu Vân vừa rót một chén rượu nhỏ, đang đưa lên miệng, nghe thấy câu này suýt nữa thì sặc, hắn nói: “Chủ công dựng nên cơ nghiệp cũng chẳng dễ dàng gì, ngươi không thông cảm thì thôi, nào có đạo lý nói vậy với người ngoài?”

      A Đẩu phản bác: “Sư phụ và Bá Ước không phải người ngoài, ta bị nha hoàn hạ nhân ức hiếp mà không được nói sao?”

      Triệu Vân theo Lưu Bị đã nhiều năm, từ lâu đã biết hạ nhân trong phủ châu mục đều xem thường A Đẩu, bởi vậy vươn tay xoa xoa trán y và nói: “Đừng nghĩ nữa, ăn thôi.”

      Mấy đĩa rau dưa trên bàn cũng đầy đủ hương vị lắm, cà xào mỡ, rau mầm xào thịt khô, còn có một tô sứ đựng ớt xanh xào ếch, thịt ếch mềm ngọt như bạch ngọc đặt giữa ớt xanh khiến mỹ vị nom thật rực rỡ. Quẳng nỗi muộn phiền lên chín tầng mây, A Đẩu thò đũa ăn như hổ đói, thỉnh thoảng lại nói nói cười cười với Khương Duy, bữa này y ăn những hai bát cơm mới ngang bụng.

      Ăn xong, A Đẩu thu dọn chén bát với Khương Duy. Khi cùng ngồi xổm dưới đất để rửa bát, Khương Duy mới nhỏ giọng hỏi: “Người trong phủ ức hiếp ngươi? Để ta nói cho quân sư.”

      A Đẩu chợt nghĩ thông, cười nói: “Quên đi, cũng chẳng phải chuyện gì to tát, không phải có ngươi và sư phụ rồi sao.”

      Khương Duy thấy ống tay áo A Đẩu dính ướt, bèn đưa tay quấn ống tay lên cho y. Hai thiếu niên đều mi thanh mục tú, người như mỹ ngọc, khuôn mặt tuấn tú lại kề sát, hơi thở giao hoà, y mơ hồ thấy được lông tơ trên môi Khương Duy. A Đẩu dằn lòng chẳng đặng mà cảm thấy rung động, lại nhìn vào đôi mắt Khương Duy, ánh mắt trong như nước, y thầm nghĩ hay là thuận thế  sáp vô hôn một cái đi.

      Chợt nghe Triệu Vân ở gian bên kia gọi: “Công Tự.”

     “Gọi ngươi đó.” Khương Duy đỏ mặt nói: “Ngươi đi đi, ta rửa cho.” Rồi cúi gằm đầu xuống.

      A Đẩu đứng dậy day day huyệt thái dương, vẫn thấy hơi váng vất. Y thong thả bước vào phòng Triệu Vân, tự mình ngồi xuống ghế trung, nghiêng đầu nhìn ngắm Triệu Vân khôi ngô tuấn tú. Triệu Vân đặt quyển sách xuống và nói: “Quân sư bảo, ngươi và Bá Ước không cần đến nghe giảng nữa?”

      A Đẩu cười nói: “Vâng, không nói là mấy ngày, hết bận sẽ sai người tới báo.”

      Triệu Vân trầm ngâm trong chốc lát rồi nói: “Ngươi có biết sư phụ đang suy nghĩ chuyện gì không?”

      A Đẩu chỉ thuận miệng đáp một câu, cũng đâu có để ý lời ấy ẩn chưa nhiều điều kỳ lạ đến thế, lúc này được Triệu Vân nhắc nhở, y mới suy nghĩ cẩn thận. Gia Cát Lượng sẽ không vô duyên vô cớ cho nghỉ, Triệu Vân hẳn là muốn hỏi thời gian nghỉ, đoán rằng Khổng Minh đang bố trí một kế hoạch nào đó, không rảnh quan tâm đến y, cho nên mới cho nghỉ học một thời gian.

       Vỡ lẽ rồi, y hỏi lại: “Cha ta muốn xuất binh? Quân sư bận quá nên mới cho nghỉ học?”

      Triệu Vân mỉm cười nói: “Sao tự dưng lại thông minh lên nhiều quá vậy? Cái bộ dáng sâu gạo trước kia là giả vờ sao? Vì sao hôm nay lại không muốn giả bộ nữa?”

      Chẳng đợi A Đẩu xấu hổ ba xạo mấy câu, Triệu Vân đã nói tiếp: “Lần này chủ công tiến quân Hán Trung, ngay cả quân sư cũng không biết chắc phải mất bao lâu mới chiếm được…”

      A Đẩu khẽ động trong lòng, hỏi: “Bàng Thống, à không, Phượng Sồ cũng đi?”

      Bị hỏi như thế, Triệu Vân hơi bất ngờ, hắn đáp: “Còn phải xem chủ công và quân sư bố trí thế nào, tại sao lại hỏi thế?”

      A Đẩu có vẻ hơi do dự, y lắc đầu, nhớ tới chuyện Bàng Thống trúng tên lạc trong thành, Lưu Bị chinh phạt Hán Trung, chọn tuyến đường Ích Châu, lại nhân cơ hội đoạt lấy Xuyên Thục, Bàng Thống đã không may chết trận trong chính cuộc chiến này.

      Danh tiếng Phượng Sồ và Ngoạ Long ngang ngửa nhau, bản thân y nếu muốn sống yên ổn trong thời loạn lạc, không nói đến tranh giành thiên hạ, nhưng ít nhất để khỏi phải làm tên vua an nhàn nhưng bị giam lỏng, thì không thể thiếu sự giúp đỡ của người này.

      Nhưng mà phải làm thế nào mới giữ được mạng cho Bàng Thống, đây lại là một vấn đề khó. A Đẩu đang chìm trong suy tư, Triệu Vân lại xoay người, phủ bàn tay to lớn ấm áp lên bàn tay Lưu Thiện mà rằng: “Giờ chưa thể nói chắc được sư phụ sẽ ở lại giữ Kinh Châu, hay theo quân ra trận, Công Tự, con là một đứa trẻ ngoan.”

      A Đẩu cười nói: “Đương nhiên rồi.”

      Triệu Vân nhìn chăm chú vào hai mắt A Đẩu, mỉm cười nói: “Thế gian phỉ báng ta, chèn ép ta, nhục mạ ta, cười nhạo ta, coi thường ta, khinh rẻ ta, căm ghét ta, ta nên xử trí thế nào đây?”

      Thần sắc ẩn chứa trong mắt hắn ấm áp tựa mặt trời buổi sớm mai, khiến trong lòng A Đẩu bất giác nảy nở một cảm giác dịu êm. Khi y đang muốn hỏi thì Triệu Vân lại cười nói: “Trở về đi, đừng để người ta không thấy tiểu chủ công mà sốt vó lên tìm.”

.

(1) Nguyên văn: “Dân bất uý tử, nại hà dĩ tử cụ chi.” Trích từ chương 14 sách “Lão Tử”

Về Thiên Sư Đạo và Thái Bình Đạo nàng nào thích có thể google.

* Về tiêu đề chương, nguyên văn nó là “Diệu biện cơ phong” ý là lời nói, lời tranh luận, biện luận rất sắc bén. Ở đây em A Đẩu cũng ko tranh luận gì với Khổng Minh cả, mà chỉ rất lươn lẹo trả lời vòng vo thôi nên mình để thành “Hùng biện”, mặc dù cảm thấy chưa chuẩn lắm nhưng mà tạm thời chưa nghĩ được từ gì khác T.T

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: